THOÁI HÓA KHỚP là hậu quả của quá trình cơ học và sinh học làm mất cân bằng giữa tổng hợp và huỷ hoại của sụn và xương dưới sụn. bệnh lý hay gặp ở người cao tuổi, bệnh có thể gây đau, hạn chế vận động, thậm chí là biến dạng xương, khớp. Các phương pháp điều trị thoái hóa khớp gối kinh điển chủ yếu chỉ cải thiện triệu chứng, hạn chế tiến triển của bệnh,... Tuy nhiên, còn nhiều hạn chế. Phương pháp tiêm huyết tương giàu tiểu cầu ( PRP) là phương pháp mới được áp dụng nhưng đã cho thấy hiệu quả cao, lâu dài, an toàn mang đến nhiều hi vọng cho bệnh nhân bị thoái hóa khớp gối.
Nội dung bài viết
Các yếu tố nguy cơ của thoái hóa khớp
Các yếu tố nguy cơ của thoái hóa khớp Theo nhiều nghiên cứu cho thấy các yếu tố nguy cơ của THK bao gồm
- Tuổi: tuổi càng cao thì tỷ lệ mắc bệnh càng nhiều.
- Giới tính và hormon: bệnh hay gặp ở nữ giới, có thể liên quan đến hormon estrogen.
- Chủng tộc: trong một số nghiên cứu ở Hoa Kỳ cho thấy tỷ tệ THK gối ở nữ giới là người Mỹ gốc Phi cao hơn chủng tộc khác (nhưng không đúng với nam giới).
- Các bệnh lý bẩm sinh hay mắc phải gây tổn thương khớp: thường hay gặp ở khớp háng hơn.
- Yếu tố gen: có mối liên quan chặt chẽ với THK bàn tay hơn là THK gối hay khớp háng.
- Hoạt động thể lực quá mức.
- Béo phì, đặc biệt là vòng bụng lớn, thường đi kèm các rối loạn chuyển hóa khác. - Chấn thương.
- Thiếu hụt vitamin D và C có thể liên quan tới tăng tỷ lệ THK.
Cơ chế gây đau khớp trong bệnh thoái hóa khớp gối Trong bệnh thoái hóa khớp đau là nguyên nhân đầu tiên khiến bệnh nhân đi khám. Sụn khớp không có hệ thần kinh, vì vậy đau có thể do các cơ chế sau
- Viêm màng hoạt dịch.
- Do kích thích của các vết rạn nứt nhỏ ở vùng đầu xương dưới sụn. - Mọc gai xương làm kéo căng các đầu mút thần kinh ở màng xương.
- Sự co kéo của dây chằng trong khớp.
- Viêm bao khớp hoặc bao khớp bị căng phồng do phù nề quanh khớp.
- Các cơ bị co thắt
PHÂN LOẠI:
Tiêu chuẩn chẩn đoán mức độ thoái hóa khớp gối trên X quang của Kellgren Lawrence trong đó đánh giá các mức độ tổn thương dựa vào atlas về hình ảnh X - QUANG
+ Giai đoạn 0: không có bất thường về khớp.
+ Giai đoạn 1: có gai xương nhỏ, không hẹp khe khớp.
+ Giai đoạn 2: có gai xương rõ và nghi ngờ có hẹp khe khớp.
+ Giai đoạn 3: có nhiều gai xương kích thước vừa, có hẹp khe khớp, có xơ xương dưới sụn và nghi ngờ có biến dạng bề mặt diện khớp.
+ Giai đoạn 4: có gai xương lớn, hẹp nhiều khe khớp, có xơ xương dưới sụn rõ và có biến dạng bề mặt diện khớp rõ

Điều trị bệnh thoái hóa khớp :
Đích điều trị:
Kiểm soát đau và sưng khớp, làm giảm tàn phế, cải thiện chất lượng cuộc sống, ngăn chặn quá trình tiến triển của bệnh cũng như giáo dục bệnh nhân về vai trò của bản thân trong điều trị bệnh. Việc điều trị dựa vào đặc điểm riêng của từng cá nhân, nguyện vọng của bản thân bệnh nhân, chức năng và mức độ hoạt động của khớp, mức độ tổn thương, tình trạng các bệnh tật kèm theo.
Các biện pháp điều trị bao gồm:
Điều trị không dùng thuốc, điều trị nội khoa dùng thuốc và điều trị ngoại khoa.
1. Các biện pháp không dùng thuốc:
Các biện pháp không dùng thuốc đóng vai trò quan trọng trong điều trị bệnh thoái hóa khớp gối. Bao gồm: giảm cân, điều chỉnh chế độ ăn, nghỉ ngơi, vật lý trị liệu phục hồi chức năng, tập luyện, đeo các dụng cụ hỗ trợ khi cần, nhiệt trị liệu (chườm nóng hoặc lạnh hay siêu âm liệu pháp),kích thích điện thần kinh qua da (transcutaneous electrical nerve stimulation- TENS), các biện pháp y học cổ truyền như sử dụng thảo dược, châm cứu, mát xa, thư giãn… Đặc biệt chú ý các phương pháp giáo dục và hỗ trợ xã hội cho bệnh nhân vì tính chất mạn tính, ảnh hưởng lâu dài của bệnh thoái hóa khớp.
2. Các biện pháp dùng thuốc:
Hiện nay chưa có một biện pháp điều trị bằng thuốc nào có thể làm ngừng sự tiến triển của tình trạng hủy khớp do thoái hóa. Thuốc điều trị triệu chứng tác dụng nhanh Thuốc giảm đau đơn thuần Nhóm thuốc giảm đau đóng một vai trò quan trọng trong điều trị TKH gối. Các thuốc như paracetamol hay acetaminophen (tiền chất của paracetamol) nói chung dung nạp tốt. Thuốc giảm đau nhóm opioid như codein hay oxycodon nên tránh dùng kéo dài. Những thuốc nhóm này có thể hữu ích khi dùng ngắn ngày trong các đợt đau cấp. Cần chú ý các tác dụng phụ trên gan khi dùng kéo dài. Thuốc chống viêm không steroid. Trong thoái hóa khớp luôn có hiện tượng viêm màng hoạt dịch, điều này giải thích tác dụng của chống viêm không steroid đối với triệu chứng viêm. Thuốc chống viêm không steroid có thể chỉ định trong thoái hóa khớp thể đau nhẹ mà không đáp ứng với paracetamol hoặc THK đau vừa hoặc nặng. chống viêm không steroid có hiệu quả hơn paracetamol. Tuy nhiên việc dùng thuốc chống viêm không steroid kéo dài có thể gây nhiều tác dụng phụ trên đường tiêu hóa, gan, thận, tim mạch. Thuốc glucocorticoid Đường toàn thân: chống chỉ định. Đường tiêm nội khớp : có chỉ định trong đau khớp gối do thoái hóa mà không đáp ứng với chống viêm không steroid hoặc có chống chỉ định với chống viêm không steroid .Chỉ tiến hành tiêm khớp khi chắc chắn không có nhiễm khuẩn khớp.
Thuốc điều trị triệu chứng tác dụng chậm Hyaluronic Acid (HA) (còn gọi là chất nhờn) là một thuốc được dùng đường nội khớp. HA hoạt động bởi các cơ chế bao phủ và bôi trơn bề mặt sụn khớp, ngăn cản sự mất proteoglycane bởi các khuôn sụn, gián tiếp làm tăng cường chế tiết HA tự do, tự nhiên hoặc hyaluro hoá bởi các tề bào màng hoạt dịch. Thuốc chống thoái hóa khớp tác dụng chậm (SYSADOA, viết tắt của SYmptomatic Slow Acting Drugs for OA) Thuốc chống THK tác dụng chậm bao gồm glucosamine, chondroitin, diacerein và các chất không xà phòng hóa tác từ quả bơ và đậu nành (avocado/soybean unsaponifiables). Liều sử dụng glucosamine sunphat là 1500 mg, chondroitin 1200 mg và diacerein 100 mg mỗi ngày.
Điều trị ngoại khoa thoái hoá khớp Điều trị dưới nội soi khớp có thể rửa khớp, lấy bỏ các thành phần ngoại lai trong khớp (các mẩu sụn khớp bị bong ra, hoặc các thành phần bị calci hoá), sửa chữa các sụn tổn thương, cắt màng hoạt dịch khớp tùy theo tình trạng cụ thể. Điều trị phẫu thuật: bao gồm thay khớp gối một phần hay toàn bộ chỉ định trong những trường hợp THK gối nặng, thất bại với các điều trị nội khoa bảo tồn và cả nội soi khớp, có giới hạn chức năng khớp gối rõ rệt trong vận động hàng ngày.
Các biện pháp điều trị bảo tồn đang được nghiên cứu áp dụng Huyết tương giàu tiểu cầu, gen trị liệu và tế bào gốc: với mục đích là hướng tới điều trị tổn thương căn bản của sụn, tức là hướng tới điều trị nguyên nhân của bệnh , các phương pháp trên đang được nghiên cứu và ứng dụng ngày càng rộng rãi trong Y học nói chung và chuyên ngành cơ xương khớp nói riêng
Tác dụng của huyết tương giàu tiểu cầu (PRP)
Để tạo ra huyết tương giàu tiểu cầu, một lượng máu (khoảng 30 cc) được lấy từ máu tĩnh mạch ở tay hoặc chân, sau đó được cho vào máy ly tâm tốc độ cao để tách và loại bỏ hồng cầu, bạch cầu và một phần huyết tương nghèo tiểu cầu để tách chiết ra khoảng 3-5 cc huyết tương giàu tiểu cầu.
Khi tiêm hoặc đưa huyết tương giàu tiểu cầu vào vùng tổn thương, các tế bào tiểu cầu nhờ đặc tính có thể phát hiện và bám vào nơi tổn thương sẽ tìm đến và tập trung tại vị trí thương tổn, sau đó tiết ra các chất hóa học có bản chất là protein (gồm các yếu tố tăng trưởng và một số yếu tố khác) sẽ kích thích các tế bào lành ở xung quanh nơi tổn thương phân chia và tham gia vào quá trình sửa chữa các thương tổn, kích thích quá trình liền thương, giúp quá trình liền thương nhanh và ổn định hơn.
Hiện nay huyết tương giàu tiểu cầu được sử dụng với hai tác dụng chính là giảm viêm và đẩy nhanh quá trình tái tạo để từ đó nhanh chóng phục hồi được khả năng vận động.
Các thao tác được đảm bảo vô khuẩn, máu được xử lý trong lab của phòng xét nghiệm với máy ly tâm. Kỹ thuật tách chiết huyết tương giàu tiểu cầu được thực hiện bởi những kỹ thuật viên cao cấp trở thành chế phẩm sinh học có chỉ tiêu chất lượng cao và an toàn khi sử dụng.
Sau khi Trung tâm tế bào gốc tách chiết được lượng huyết tương giàu tiểu cầu cần thiết, các bác sĩ sẽ thực hiện tiêm vào vùng tổn thương trong điều kiện đảm bảo vô khuẩn và với sự hỗ trợ của máy siêu âm chuyên dụng để chắc chắn đưa huyết tương giàu tiểu cầu vào đúng nơi tổn thương để đảm bảo hiệu quả và tác dụng của phương pháp trị liệu.
Sau khi khám và có chỉ định tiêm PRP, người bệnh sẽ được lấy máu và chuyển tách chiết PRP. Ngay sau khi tách chiết xong PRP được tiêm trở lại cho người bệnh, trực tiếp tại vùng vai tổn thương dưới hướng dẫn siêu âm. Sau tiêm, người bệnh có thể về nhà ngay và tái khám sau 3 – 4 tuần để đánh giá hiệu quả điều trị. Tùy vào tình trạng bệnh và khả năng phục hồi của từng người, bác sĩ sẽ chỉ định tiêm PRP 2 - 3 lần.
Trên thực tế, mức độ khỏi và dứt điểm bệnh lâu dài sẽ phụ thuộc rất lớn vào chất lượng chế phẩm PRP sau tách chiết và việc tiêm đúng chuẩn vào vị trí tổn thương. Việc tiêm PRP dưới hướng dẫn siêu âm có khả năng tạo sự khác biệt trong hiệu quả điều trị nhờ tác động trực tiếp và chính xác vào vị trí tổn thương.